Cập nhật Kinh tế vĩ mô – Thương mại tháng 10 cải thiện, điều chỉnh tăng dự báo

Xu hướng kim ngạch xuất khẩu cải thiện nhờ số liệu tháng 10 khả quan

Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, dù vẫn bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, đã tăng 5,0% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020, tăng so với mức tăng 4,1% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 mặc dù vẫn giảm so với tốc độ tăng trưởng trong năm 2019. Đáng chú ý, trong 9 tháng đầu năm 2020, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nhanh nhất trong khu vực (chúng tôi tính toán tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ASEAN giảm 8,6% so với cùng kỳ trong giai đoạn 9 tháng đầu năm 2020).

Nhóm máy móc, thiết bị điện tử và sản phẩm gỗ có nhu cầu mạnh mẽ, khi giá trị xuất khẩu của các nhóm này tăng lần lượt 43,3%, 25,2% và 14,1% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Ngược lại, các sản phẩm trong ngành sản xuất khác có nhu cầu kém hơn và giảm so với cùng kỳ, gồm túi xách và ô dù (giảm 16,6% so với cùng kỳ), hàng dệt may (giảm 9,4% so với cùng kỳ), giày dép (giảm 8,8%) và điện thoại (giảm 4,2% so với cùng kỳ). Giá trị xuất khẩu nhóm nông nghiệp cũng giảm, chủ yếu do giá giảm, ngoại trừ giá trị xuất khẩu gạo (tăng 9,5% so với cùng kỳ).

Tác động của dịch COVID-19 lên hoạt động nhập khẩu giảm rõ rệt

Hoạt động nhập khẩu của Việt Nam chịu tác động của dịch COVID-19 nặng nề hơn hoạt động xuất khẩu, và đang cải thiện. Với mức tăng 9,2% so với cùng kỳ, giá trị nhập khẩu đã tăng 0,3% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Quan trọng là nhu cầu nhập khẩu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng trở lại, theo đó hoạt động sản xuất có thể tốt hơn và giúp cải thiện triển vọng xuất khẩu trong thời gian tới.

Trong 10 tháng đầu năm 2020, nhu cầu nhập khẩu bán thành phẩm và các linh kiện liên quan vẫn tăng mạnh, gồm điện tử (tăng 20,2% so với cùng kỳ), điện thoại (tăng 3,6% so với cùng kỳ) và sản phẩm nhựa (tăng 9,6% so với cùng kỳ). Trong khi đó, nhập khẩu nguyên vật liệu cho một số sản phẩm chế biến & chế tạo giảm so với cùng kỳ do hoạt động xuất khẩu trầm lắng, gồm: sắt thép (giảm 17,6% so với cùng kỳ), vải (giảm 12,9% so với cùng kỳ), nguyên phụ liệu dệt may và da giày (giảm 11,4% so với cùng kỳ) và nguyên liệu nhựa (giảm 10,6% so với cùng kỳ). Đáng chú ý, nhu cầu về nguyên phụ liệu dệt may và da giày được cải thiện trong tháng 10/2020.

Điều chỉnh dự báo

Số liệu Q3/2020 tích cực hơn so với dự báo của chúng tôi, theo đó, chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu lần lượt thành tăng 5,7% và 1,5% năm 2020 (từ lần lượt tăng 2,5% và giảm 1,2% trước đó). Chúng tôi cũng dự báo cả kim ngạch xuất và nhập khẩu sẽ đều tăng trong năm 2021 (kim ngạch xuất khẩu tăng 6,0% và kim ngạch nhập khẩu tăng 5,0%) và năm 2022 (lần lượt tăng 9,0% và tăng 10,0%).

Thương mại Việt Nam tiếp tục khả quan

Thặng dư kỷ lục

Thặng dư thương mại đạt 2,94 tỷ USD trong tháng 10/2020. Trong 10 tháng đầu năm 2020, thặng dư đạt 19,50 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức 9,30 tỷ USD cùng kỳ và và là mức thặng dư thương mại cao kỷ lục của Việt Nam (Bảng 1).

Biểu đồ 1: Cán cân thương mại thặng dư kỷ lục 

Cập nhật Kinh tế vĩ mô – Thương mại tháng 10 cải thiện, điều chỉnh tăng dự báo

Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam hàng tháng 

Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng nhanh nhất khu vực 

Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng vững chắc

Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ảnh hưởng vừa phải bởi dịch COVID-19

Trong tháng 10/2020, kim ngạch xuất khẩu tăng 12,2% so với cùng kỳ và tăng 0,4% so với tháng trước (Bảng 2). Số liệu này tích cực hơn so với số liệu ước tính trước đó của Chính phủ (lần lượt là tăng 9,9% so với cùng kỳ và giảm 1,7% so với tháng trước). Do đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2020 đã tăng 5,0% so với cùng kỳ, tăng tốc so với mức tăng 4,1% trong 9 tháng đầu năm 2020 dù thấp hơn mức tăng 8,3% trong 10 tháng đầu năm 2019. Tăng trưởng chậm lại là do tác động của dịch COVID-19 gây ra một số yếu kém đối với hoạt động xuất khẩu trong Q2/2020.

Xem số liệu xuất khẩu của các nước ASEAN, chúng tôi thấy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất trong khu vực. Trên thực tế, dịch COVID-19 đã tác động phần lớn đến hoạt động xuất khẩu ở hầu hết các quốc gia, dù đối với Việt Nam là tương đối vừa phải. Đáng chú ý, trong khi nhiều quốc gia đang bị xảy ra làn sóng thứ 2 của dịch COVID-19 khiến giá trị xuất khẩu tiếp tục giảm sâu trong tháng 8 và tháng 9, thì Việt Nam đặc biệt vẫn duy trì được mức tăng trưởng vững chắc (Bảng 3).

Nhu cầu lớn tại một số nhóm sản phẩm

Một số sản phẩm được hưởng lợi từ nhu cầu tăng khi đại dịch COVID-19 xảy ra nhờ xu hướng làm việc tại nhà và mô hình học tập trực tuyến. Cụ thể, trong 10 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu nhóm máy móc và nhóm sản phẩm điện tử (gồm cả máy vi tính) tăng lần lượt 43,3% và 25,2% so với cùng kỳ, trong khi giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm bằng gỗ tăng 14,1% so với cùng kỳ.

Xu hướng xuất khẩu tiếp tục duy trì mạnh mẽ trong tháng 10. Giá trị xuất khẩu một số nhóm hàng vẫn tăng mạnh, bao gồm: nhóm máy móc (tăng 70,1% so với cùng kỳ), nhóm điện tử (tăng 20,7% so với cùng kỳ), và gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 23,6% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, nhóm hàng điện tử đang giảm một chút so với tháng trước.

Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam theo các mặt hàng chính 

Một số sản phẩm sản xuất khác chịu tác động nặng nề khi nhu cầu kém

Giá trị xuất khẩu của một số sản phẩm sản xuất khác vẫn trầm lắng trong 10 tháng đầu năm 2020 do dịch vẫn bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Trong khi đó, giá trị xuất khẩu nhóm túi xách & ô dù, nhóm hàng dệt may và nhóm hàng giày dép giảm lần lượt là 16,6%, 9,4% và 8,8% so với cùng kỳ.

Dù tăng so với tháng trước trong tháng 10. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng trên vẫn giảm so với cùng kỳ trong tháng, gồm: nhóm túi xách & ô dù (giảm 19,9% so với cùng kỳ), hàng dệt may (giảm 4,7% so với cùng kỳ) và giày dép (giảm 12,3% so với cùng kỳ). Đáng chú ý, nhóm hàng giày dép và túi xách có sự cải thiện khi tăng lần lượt 11,6% và 5,2% so với tháng trước.

Giá trị xuất khẩu nhóm điện thoại và linh kiện cải thiện trong tháng 10 khi tăng 2,5% so với cùng kỳ và 3,6% so với tháng trước. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu trong 10 tháng đầu năm 2020 của nhóm này giảm 4,2% so với cùng kỳ, dịu lại một chút so với mức giảm 5,2% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020.

Nhóm hàng nông nghiệp có giá trị xuất khẩu giảm; chủ yếu do giá giảm, ngoại trừ gạo.


Xuất khẩu gạo của Việt Nam được hỗ trợ nhờ giá tăng. Nhu cầu dự trữ gạo trở nên mạnh mẽ do đại dịch, đẩy chỉ số giá gạo toàn cầu (chỉ số giá gạo FAO) tăng 6,6% trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng tăng 26,1% so với cùng kỳ trong giai đoạn này. Lũy kế 10 tháng năm 2020, Việt Nam xuất khẩu 5,35 triệu tấn gạo, với giá trị 2,64 tỷ USD, giảm nhẹ 2,8% so với cùng kỳ về sản lượng nhưng vẫn tăng tốt 9,5% so với cùng kỳ về giá trị. Cần lưu ý thêm là sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam được Chính phủ giám sát chặt chẽ để đảm bảo an toàn lương thực quốc gia.
Kim ngạch xuất khẩu của các sản phẩm khác có một số cải thiện trong tháng 10/2020; nhưng không đủ để giúp giá trị từ đầu năm thành tăng trưởng. Cụ thể, trong tháng 10, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm thủy sản, cà phê và hạt điều tăng lần lượt 10,3%, 4,9% và 4,5% so với cùng kỳ, trong khi giá trị xuất khẩu rau quả giảm 18,2% so với cùng kỳ (dù tăng nhẹ so với tháng trước). Lũy kế 10 tháng đầu năm 2020, 4 mặt hàng nông sản vẫn giảm so với cùng kỳ, trong đó: rau quả (giảm 12,2% so với cùng kỳ), hạt điều (giảm 2,6% so với cùng kỳ), thủy sản (giảm 1,5% so với cùng kỳ) và cà phê (giảm 0,6% so với cùng kỳ).

Nhập khẩu: Tác động từ dịch COVID-19 giảm dần

Nhu cầu nhập khẩu từ nhóm FDI trở lại

Với mức tăng 9,2% so với cùng kỳ, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam chuyển sang tăng nhẹ 0,3% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020. Kim ngạch nhập khẩu tháng 10/2020 tăng 9,2% so với cùng kỳ, giảm so với mức tăng 12,6% của tháng trước dù cao hơn mức tăng 2,4% trong tháng 10/2019. Trong 10 tháng đầu năm 2020, giá trị nhập khẩu tăng 0,3% so với cùng kỳ, sau 5 tháng liên tiếp giảm và đánh dấu sự phục hồi đáng kể từ mức giảm 4,9% trong 5 tháng đầu năm 2020 (phản ánh giai đoạn chịu tác động nặng nề nhất từ dịch COVID-19).

Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu của 10 tháng đầu năm 2020 (tăng 0,3% so với cùng kỳ) vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng 7,6% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2019. Hoạt động nhập khẩu của Việt Nam chịu tác động của dịch COVID19 rõ ràng hơn hoạt động xuất khẩu, khi bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tố, gồm: (1) gián đoạn chuỗi cung ứng trong giai đoạn cách ly xã hội và (2) nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất giảm, tác động gián tiếp từ xuất khẩu trầm lắng do nhu cầu toàn cầu thấp.

Nhu cầu nhập khẩu từ nhóm doanh nghiệp FDI trở lại từ tháng 9/2020 và tăng mạnh trong tháng 10/2020 – Kim ngạch nhập khẩu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bắt đầu tăng 6,9% so với cùng kỳ trong tháng 9, sau khi giảm 5 tháng liên tiếp trước đó. Nhu cầu từ nhóm doanh nghiệp này tăng trở lại 27,0% so với cùng kỳ trong tháng 10/2020 (Bảng 5). Theo đó, lũy kế 10 tháng đầu năm 2020, kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng 10,2% so với cùng kỳ, phục hồi đáng kể từ mức giảm 4,5% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2020 và tăng mạnh từ mức tăng 3,6% so với cùng kỳ 10 tháng đầu năm 2019. Đó có thể là sự hỗ trợ cho hoạt động sản xuất của nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thúc đẩy triển vọng xuất khẩu trong thời gian tới.

Bảng 5: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam theo các mặt hàng chính 

Nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất cao, thúc đẩy triển vọng xuất khẩu

Nhu cầu nhập khẩu bán thành phẩm, linh kiện và nguyên liệu vẫn ở mức cao ở một số ngành hàng với triển vọng xuất khẩu sáng sủa. Kim ngạch nhập khẩu của nhóm điện tử, điện thoại và sản phẩm nhựa tăng lần lượt 39,9%, 28,3% và 15,6% so với cùng kỳ trong tháng 10. Do đó, tăng trưởng so với đầu năm nhóm này tăng nhanh lần lượt 20,2%, 3,6% và 9,6% so với cùng kỳ trong 10 tháng đầu năm 2020 (từ mức tăng lần lượt là 17,9%, 0,1% và 8,8% trong tháng 9/2020) (Bảng 5).

Nhập khẩu nguyên liệu bị ảnh hưởng gián tiếp bởi dịch COVID-19. Đại dịch khiến giá trị xuất khẩu một số sản phẩm sản xuất trầm lắng do nhu cầu giảm, kim ngạch nhập khẩu nguyên vật liệu của Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10 giảm ở mức hai con số thấp, gồm: sắt thép (giảm 17,6% so với cùng kỳ), vải (giảm 12,9% so với cùng kỳ), nguyên phụ liệu dệt may giày dép (giảm 11,4% so với cùng kỳ) và nguyên phụ liệu nhựa (giảm 10,6% so với cùng kỳ).

Nhu cầu nguyên liệu dệt may và giày dép được cải thiện. Đáng chú ý, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt và da bắt đầu tăng 2,7% so với cùng kỳ (tăng 9,2% so với tháng trước) trong tháng 9 và tăng 1,3% so với cùng kỳ (tăng 13,3% so với tháng trước) trong tháng 10; sau khi đã giảm trong 5 tháng liên tiếp trước đó. Trong khi đó, nhu cầu vải cũng tăng trong tháng 9 và tháng 10 lần lượt tăng 7,7% và 12,4% so với tháng trước (dù vẫn giảm lần lượt 3,1% và 9,4% so với cùng kỳ).

Điều chỉnh dự báo

Số liệu Q3/2020 tích cực hơn so với dự báo của chúng tôi, theo đó, chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu lên lần lượt là tăng 5,7% và 1,5% (từ lần lượt tăng 2,5% và giảm 1,2% trong dự báo trước đó). Do dịch COVID-19 ngày càng nghiêm trọng (khi bước sang mùa thu đông), cùng với yếu tố mùa vụ (đỉnh điểm hoạt động thương mại thường rơi vào quý 3 hàng năm), chúng tôi dự báo giá trị xuất khẩu của Việt Nam trong Q4/2020 sẽ giảm 3,3% so với quý trước trong khi kim ngạch nhập khẩu tăng 2,7% so với quý trước. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu tăng vững chắc 10,1% so với cùng kỳ (so với tăng 10,6% trong Q3/2020) trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tiếp tục cải thiện, tăng 7,4% so với cùng kỳ (so với tăng 3,7% so với cùng kỳ trong Q3/2020).

Chúng tôi duy trì dự báo thận trọng đối với hoạt động thương mại năm 2021, do sự bất ổn của kinh tế toàn cầu, với mức tăng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu lần lượt là 6% và 5%, dựa theo mục tiêu hiện tại của IMF là kinh tế toàn cầu tăng trưởng 5,2% và kim ngạch thương mại tăng trưởng 8,0%. (WEO: Một con dốc dài và khó khăn, tháng 10/2020, IMF). Tiếp theo, năm 2022, dự báo của chúng tôi là kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng trưởng lần lượt 9,0% và 10%, với giả định dịch COVID-19 sẽ được kiểm soát phần lớn trên toàn cầu cùng với tác động tích cực từ một số hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia.

Bảng 6: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) 

Bảng 7: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực là tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới 

Việt Nam đã tham gia một hiệp định FTA mới – Ngày 15/11/2020, Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã được ký kết bởi các nhà lãnh đạo của 15 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương, trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 do Việt Nam chủ trì tại Hà Nội. Các quốc gia tham gia gồm 10 quốc gia Đông Nam Á, cùng với Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand. Hiệp định FTA mới này sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam có thể tiếp cận thuận lợi với một phần ba dân số thế giới, tạo ra cơ hội xuất khẩu tại các quốc gia chiếm tổng cộng 29% GDP thế giới, tương đương khoảng 26 nghìn tỷ USD. (Việt Nam ký kết hiệp định thương mại lớn nhất thế giới Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực, ngày 15/11/2020, VnExpress).

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 


Nguồn: HSC

Bình luận bài viết
Bài viết liên quan